Cụm di tích lịch sử Đình - Đền - Chùa Triều Khúc đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia tại Quyết định số 68/ QĐ/BT - VTTT ngày 29/01/1993.
I. Cụm di tích Đình – Đền - Chùa Triều Khúc:
Làng Triều Khúc có 2 ngôi đình gồm: Đình thờ sắc (Đền thờ sắc) là nơi giữ sắc thờ và Đình lớn (Đại Đình) là Đình chính nơi thờ vị Thành Hoàng vốn là anh hùng dân tộc thế kỷ thứ VIII: Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng, người mà hàng năm chính quyền và nhân dân đều tổ chức các hoạt động để tri ân công đức của ngài. Ngoài ra trong cụm di tích ấy còn có nơi thờ Vũ sứ thần, người có công truyền nghề cho dân làng Triều Khúc. Về ngôi Đình này, theo tục truyền được xây dựng từ thời Đường Đại Lịch năm Canh Ngọ (790), khi đó chỉ là ngôi miếu nhỏ. Khi Phùng Hưng mất, con trai Ngài là Phùng An lên ngôi, nhớ công đức của Phụ vương bèn cho các bậc hiền thần đi tìm nơi có dấu tích của ngài để lập đền thờ. Đến mùa xuân năm Tân Mùi (791), ngôi miếu nhỏ ở Triều Khúc được xây dựng lại thành Đại cổ miếu, sau trải qua loạn lạc, không có dấu tích gì về việc sửa chữa tôn tạo và cho đến đời Hậu Lê, Vĩnh Hựu lục niên (Canh Thân 1740) được phụng kiến lại. Hơn một thế kỷ sau, năm Minh Mệnh nhị thập niên (Kỷ Hợi 1839) mới lại được trùng tu. Song đợt trùng tu tôn tạo lớn nhất để thành ngôi Đình như ngày nay là vào năm 1935.
Đại Đình Triều Khúc
Đại Đình Triều Khúc tọa lạc trên một khu đất rộng giữa khu vực cư trú của làng, theo hướng Nam. Đình có quy mô kiến trúc đồ sộ do nhiều nếp nhà ngang dọc tạo thành. Từ ngoài vào di tích bao gồm: Cổng tứ trụ, Nghi môn, Phương đình, 2 dãy Tả hữu mạc, Đại bái và Hậu cung.
Đình và đền còn giữ được 11 đạo sắc phong từ thời Lê Cảnh Hưng 44 (1783) đến thời Khải Định 9 (1924). Đình được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp Quốc gia vào năm 1992.
Vào ngày hội Đại Đình chính là nơi rước Thánh về ngự trong suốt quá trình diễn ra lễ hội và tại nơi đây dân làng có đúc tượng thờ Ngài.
Đền Triều Khúc (còn gọi là Đình thờ sắc)
Theo quan niệm dân gian thì Đình là hội sở, đền là nơi thần ngự, vì vậy ở đền Triều Khúc chính là nơi thờ Đức thánh Phùng Hưng - Bố Cái Đại Vương với long ngai bài vị, mũ, áo và hia của thần được an trí ở đây (Đình chỉ thờ bài vị). Bên cạnh đó đền còn là nơi lưu giữ, thờ tự toàn bộ 11 đạo sắc của các triều vua phong kiến trước đây ban phong mỹ tự cho vị thành Hoàng của làng nên còn được gọi là Đình thờ sắc.
Chùa Triều Khúc ( Hương Vân Tự)
Chùa Triều Khúc là ngôi chùa được gọi theo tên làng Triều Khúc, phường Thanh Liệt Chùa có tên chữ là Hương Vân Tự - 香雲寺 (Chùa Hương Vân), nằm ở phía Tây Nam cách trung tâm Hà Nội khoảng 10km về phía Tây trên đường đi Hà Đông.
Chùa Triều Khúc được xây dựng trong quần thể di tích của làng Triều Khúc bao gồm: Đình - Đền (Đình thờ Sắc) - Chùa Triều Khúc.
Đền thờ đức Thánh Tổ làng nghề
Đền thờ đức Thánh Tổ làng nghề là Vũ Sứ thần (tức Vũ Đức Úy). Tương truyền vào thời vua Lê Hiển Tông (1740 - 1786), ngài làm quan được cử làm Phó sứ sang Trung Quốc. Ngài rất có chí mở mang đất nước, nên khi đi sứ sang nước người, ngài đi tìm hiểu việc làm ăn, nhất là nghề thủ công bản xứ và khi trở về nước ngài đã truyền nghề dệt, nghề tơ sợi cho nhiều nơi. Riêng làng Triều Khúc, Vũ Sứ thần truyền cho nhân dân 6 nghề như: Nghề làm chổi lông gà, hoa lông vịt, tóc độn, chân chỉ y môn, dây đàn bằng tơ tằm và quai thao cho nón thúng, nón ba tầm.
Nhớ công ơn Vũ Sứ thần, dân làng Triều Khúc đã lập ban thờ phối hưởng tại Đại Đình. Năm Ất Sửu (1925) làng xây một ngôi đền nhỏ bên cạnh Đình thờ sắc. Năm Tân Mùi (1931), dân làng xây lại đền thờ Tổ bên cạnh chùa Hương Vân như hiện nay.
Đền thờ đức Nghệ Sư có 3 gian, gian giữa đặt khám thờ có tượng Vũ Sứ thần; có hai bức hoành phi "Lê triều sứ" và "Vũ Sứ thần". Tại đền có câu đối.
Lục nghề thần thông, tứ dân Hoài Đức
Song tinh nội chiếu, ngũ phúc kiêm toàn
Sáu nghề tinh thông muôn dân nhớ đức
Hai sao chiếu sáng, năm phúc vẹn toàn
Dân làng Triều Khúc lấy ngày 20 tháng hai âm lịch hằng năm làm ngày hội truyền thống làng nghề.
II. Lễ hội truyền thống và phong tục tập quán
1."Lễ hội làng Triều Khúc - Di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia".
Bên cạnh múa Trống Bồng có điệu múa khác cũng rất nổi tiếng và thường xuyên được dùng trong Lễ hội đó là múa Sênh tiền và múa Rồng, múa Sênh tiền là điệu múa cung đình phục vụ vua, chúa xưa kia, các động tác tay dẻo diễn tả lại các động tác dệt cửi một trong những nghề truyền thống của làng Triều Khúc. Múa Rồng không chỉ cầu mong mưa thuận gió hòa, Quốc thái dân an mà còn bao hàm cả nội dung giáo dục tinh thần thượng võ, truyền thống uống nước nhớ nguồn cầu mong phồn vinh thịnh vượng. Múa Rồng hoành tráng với nhiều động tác tạo hình biến hóa sinh động như rồng chào, rồng phục, rồng chầu, rồng bay cao, hạ thấp, rồng cuộn, rồng lượn, rồng uốn khúc, rồng đuổi ngọc, ngậm ngọc…
Ngoài ra Lễ hội Triều Khúc còn có những trò vui khác như cờ tướng, múa lân hí cầu, đấu vật, triển lãm cây cảnh nghệ thuật, thi đấu các giải bóng đá, cầu lông, đá cầu, bóng chuyền hơi…Sới vật Triều Khúc cũng là một trong những sới vật nổi tiếng, thu hút khá đông các đô vật nơi khác về tham dự…
Ngày 12 là ngày giã hội trong ngày này có tế rã đám và kết thúc bằng điệu múa chạy cờ rất độc đáo tương truyền điệu múa này diễn ra tại cuộc chiến đấu của nghĩa quân Phùng Hưng năm xưa. Điệu múa diễn ra trong tiếng hò, trống phách với từng tốp cờ, vừa múa vừa chạy tạo khí thế như những cánh quân ra trận rồi tụ hợp với nhau thành sức mạnh đoàn kết, có thể chiến thắng mọi kẻ thù. Khi các nghi lễ kết thúc cũng là lúc mọi người ngồi vào chiếu hưởng lộc thánh, cầu cho một năm mới mưa thuận gió hòa, phát tài, phát lộc.
Tổ chức Lễ hội đó cũng là cách người dân tỏ lòng tôn kính với bậc tiền nhân đã mang đến cho họ cuộc sống hòa bình và ấm no, đó cũng là cách quảng bá văn hóa Việt tới du khách trong và ngoài nước khi đến với quê hương còn giữ nhiều nét cổ kính này. Nghi thức tế Thánh, Lễ rước thánh và múa Trống Bồng, múa chạy cờ của làng Triều khúc đã trở lên rất nổi tiếng nhiều lần được tham gia trình diễn tại các sự kiện sinh hoạt văn hóa, Lễ hội dân gian của Quốc gia và Thủ đô Hà Nội.
2. Một số phong tục tập quán đời sống văn hóa và tín ngưỡng
+ Tục thờ cúng tổ tiên được nhân dân Triều Khúc tổ chức theo các dòng họ kèm theo tục lệ "việc quan họ". Ngày giỗ tổ cũng là dịp để các cụ khuyên răn con cháu làm việc tốt, giữ gìn thanh danh cho dòng họ. Dòng họ thực hiện cộng đồng trách nhiệm rất cao. Các gia đình có việc lớn như hiếu, hỉ, mừng thọ thì họ tộc đứng ra gánh vác mọi việc, tổ chức chu toàn.
+ Tục đóng cổng ngõ trong Lễ cưới: Khi nhà trai đến đón dâu, nhà gái thường đóng cổng ngõ gọi là "tục đóng cổng ngõ". Nhà gái phải cử một ngưòi thạo ứng xử, người này đặt ra rất nhiều câu hỏi, câu đố vui buộc nhà trai phải trả lời, đến khi nhà gái thấy được thì mở cổng mời vào. Đây chỉ là một trò vui thân mật làm cho ngày cưới của đôi trẻ thêm mặn mà, đằm thắm. Sau thủ tục xin dâu, chú rể, cô dâu Lễ gia tiên nhà gái và khi về nhà chồng hai người làm Lễ gia tiên nhà chồng và được bố mẹ chồng trao tượng trưng một ít tiền, vàng…làm vốn. Một nét độc đáo ít nơi có là sau lễ cưới, cô dâu theo họ hàng trở về nhà cha mẹ đẻ, đến tối chú rể đến xin phép cha mẹ vợ đón vợ về.
+ Tục tăng tuổi thọ: Xưa kia do nhiều nguyên nhân khác nhau nên người thọ 60, 70 rất hiếm, 80 càng hiếm nữa, vì thế những người có tuổi thọ cao đều được dân làng mừng vui và tổ chức mừng thọ rất trang trọng. Riêng ở làng Triều Khúc, người thọ 70 vào những năm 30 của thế kỷ XX vẫn còn rất hiếm, bởi thế mới có chuyện quan đầu tỉnh xin với vua triều đình nhà Nguyễn đặc ân cho các cụ thêm 02 tuổi, nghĩa là các cụ 68 tuổi là được phép tổ chức Lễ mừng thọ 70, rồi cứ 10 năm sau lại tăng thêm một cấp mừng thọ 80 hoặc 90. Nghĩa là mừng các cụ thất, bát, cửu nhưng thực ra các cụ mới 68, 78, 88 tuổi.
+ Lễ đón giao thừa được tổ chức tại Đình thờ sắc rất trang trọng. Nghi thức chính của Lễ này có Lễ cáo văn "Tống cựu nghênh tân". Trước Lễ giao thừa, các quan viên tề tựu đông đủ, mũ áo chỉnh tề đứng vào vị trí làm Lễ đón giao thừa tại Đình thờ sắc. Sau đó hai cụ "từ" lần lượt dâng dùi trông cho cụ "cai tân", dùi chiêng cho cụ "cai cựu". Hai cụ cai Lễ rồi trở lại vị trí để trống, để chiêng.
Đúng giờ giao thừa cụ cai tân dõng dạc đánh tiếng trống cái đầu tiên, cụ cai cựu đánh tiếp tiếng chiêng.
Cứ thế trống, chiêng được dóng ba hồi, hồi sau dài hơn hồi trước khoảng 5 phút. Lễ đón giao thừa, Lễ động thổ và Lễ sang canh diễn ra chừng hai giờ đồng hồ. Sau đó những người dự mới tản về các gia đình xông đất và làm Lễ đón xuân tại gia đình.
Tục lệ ăn cỗ nhân dân Triều Khúc rất coi trọng việc xếp cỗ theo lứa tuổi. Tục lệ này được thể hiện khá chặt chẽ trong việc xếp mâm khi mời làng ăn cỗ.
Dù là việc làng tổ chức ở đình hay các gia đình có đám hiếu, hỉ, mừng thọ mời làng xóm, họ hàng ăn cỗ cũng đều xếp theo thứ tự từ trên xuống dưới, nam riêng, nữ riêng. Người xếp cỗ thay mặt gia chủ phải là người am hiểu các mối quan hệ họ hàng, làng xóm và tuổi tác của khách mời để xếp cho đúng mâm; trên hết là các mâm cụ cửu, cụ bát, rồi cụ thất và sau đó cứ theo tuổi cao thấp mà xếp mâm theo thứ tự để cùng ăn cỗ một lần vào buổi sáng.
Khi ăn cỗ xong thì mâm dưới phải nhìn mâm nhất, nếu mâm các cụ chưa ăn xong, chưa bưng mâm ra thì mâm dưới dù ăn xong rồi vẫn phải chờ.
Tục xếp cỗ này giáo dục cho con cháu trong làng lòng tôn kính người trên và lối sống trên kính dưới nhường, không phải chỉ trong tục lệ ăn cỗ mà cả trong cuộc sống hằng ngày.
Kiến trúc nhà ở của Triều Khúc
mang đậm nét kiến trúc phương Đông và dáng nét kiến trúc Đình làng. Một số gia đình tại Tổ dân phố Triều Khúc hiện nay còn giữ được nếp nhà xưa. Đó là các nhà gỗ, tường xây bao quanh, mái ngói ta. Chiều dài, rộng của ngôi nhà tuỳ thuộc vào đất ỏ rộng hẹp, nhưng phổ biến là ba gian, năm gian nhà chính cộng thêm nhà "ngang" và công trình phụ. Sân nhà cũng tuỳ thuộc vào đất, song nói chung đều tương xứng với nhà. Khi nhà có việc (hiếu, hỉ, mừng thọ) sân có thể che rạp thông với nhà chính tạo thành một hội trường lớn.
Ngôi nhà chính năm gian hoặc ba gian có phần kiến trúc gỗ rất đáng chú ý. Đặc biệt gian giữa đặt bàn thờ tổ tiên, có hai cột cái, hai cột con, quá giang. Bộ kèo nhà phổ biến nhất là kẻ truyền, hoặc chồng giường; cầu kỳ hơn thì giường cánh, chạm trổ hoa lá, chim muông; hiên nhà chính phần nhiều rộng rãi, có cột chống, mái có bẩy, cũng được chạm trổ hoa văn đẹp. Nhiều nhà có hoành phi, câu đối, cửa võng, ngai thờ tổ tiên sơn son thếp vàng.
Ngày nay, trong cả hai làng có thêm nhiều nhà tầng mọc xen ghép; những nhà có điều kiện đất rộng, kinh tế khá, dù xây thêm nhà cao tầng vẫn gìn giữ nếp nhà cổ.
Dân làng Triều Khúc và Yên Xá có truyền thông chơi non bộ, cây cảnh, cây thế như sanh, đa, vạn tuế, mai chiếu thuỷ và một số loài cây hoa khác.
Cây cảnh mỗi nhà được tạo thế theo ý tưởng, hoài bão của người chơi, phổ biến là thế trực, thế hoành, thế long giáng, thác đổ, mai bò, phụ tử, mẫu tử, phu phụ... Không ít người chơi cây cảnh, non bộ, bon sai đã tìm cho mình một ý thơ để ngắm cảnh, nhàn ngâm.
III. Làng nghề truyền thống
Triều Khúc là vùng đất cổ có từ lâu đời, đất đai làng được phù sa sông Hồng, sông Tô bồi đắp nên tạo thành những vùng đất màu mỡ, bên cạnh đó ruộng đất cũng có nhiều đầm trũng và gò đống không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Từ khi những dân cư đầu tiên mới đặt chân sinh sống đến khi hình thành làng xã, trải qua một quá trình lâu dài. Gắn liền với quá trình ấy là công sức, mồ hôi, trí tuệ của bao thế hệ người dân nơi đây xây dựng nên, từ khai hoang, lập trại, rồi đến lập làng.
Kinh tế của Triều Khúc xưa dựa vào nông nghiệp với bàn tay khéo léo, sáng tạo nhân dân làng Triều Khúc ngoài làm ruộng lại giỏi nghề thủ công, mỹ nghệ nên sớm trở thành làng nghề truyền thống từ cuối thế kỷ Lê Trung Hưng. Trong đó tiêu biểu là nghề tết quai thao cho nón thúng (loại nón bằng không chóp)… Ngày nay, cùng với quá trình đô thị hóa tăng nhanh, nền kinh tế của Tổ dân phố Triều Khúc, phường Thanh Liệt có bước phát triển với tốc độ cao, cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo hướng công nghiệp, thương mại, dịch vụ với nhiều loại hình kinh doanh, dịch vụ, ngành nghề được mở rộng.